Nhớ con sông quê hương

Tác giả: Tế Hanh - 1956

Nhớ con sông quê hương

Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng
Chẳng biết nước có nhớ ngày nhớ tháng
Nhớ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi
Hỡi con sông tắm mát cả đời tôi
Tôi giữ mãi mối tình trong trẻo
Sông của quê hương sông của tuổi trẻ
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu

Nhớ con sông quê hương


Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bày chim non bơi lội trên sông
Tôi giang tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ
Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả
Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông
Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng
Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến
Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển
Vẫn trở về lưu luyến bên sông

Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc
Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc
Hai tiếng quê hương hai tiếng miền Nam
Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng
Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc
Tôi nhớ cả những người không quen biết
Những buổi trưa tôi đứng dưới hàng cây
Vẫn nghe dâng một nỗi tràn đầy
Hình ảnh con sông quê mát rượi
Lai láng chảy hồn tôi như suối tưới
Quê hương ơi tình tôi cũng như sông
Tình Bắc Nam tuôn chảy một dòng
Không ghềnh thác nào ngăn cản được
Tôi lại trở về nơi tôi hằng mơ ước
Tôi sẽ trở về sông nước của quê hương
Tôi sẽ trở về sông nước của tình thương


Hoàn cảnh sáng tác bài thơ "Nhớ con sông quê hương"
Tháng 1/1954 ngoại trưởng 4 nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp thỏa thuận triệu tập hội nghị quốc tế tại Gionevo để giải quyết vấn đề Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Tháng 7/1954 Hiệp định Jonevo về Đông Dương được kí kết, với một nội dung hiệp định qui định tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam sau hai năm, kể từ khi kí kết hiệp định.

Tuy nhiên, đến hạn hai năm chính quyền thân Mỹ mới được lập lên ở Sài Gòn, do Ngô Đình Diệm làm thủ tướng đã từ chối hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Ngô Đình Diệm đã ngang nhiên tuyên bố "không có hiệp thương tổng tuyển cử, chúng ta không kí Hiệp Định Gionevo, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi hiệp định đó". Tuyên bố này đã khiến cho nước Việt Nam tiếp tục bị chia cắt và dân tộc Việt Nam phải chờ đợi tới 21 năm sau đó (tính từ 1954 tới 1975) với chiến dịch Hồ Chí Minh, hai miền Nam - Bắc Việt Nam mới có thể thống nhất. Qua đó chúng ta cũng có thể nhận thấy một trong những tội ác của tập đoàn Ngô Đình Diệm gây ra cho việc chia cắt Việt Nam.

Bài thơ được viết vào năm 1956, hai năm sau khi Hiệp định Jonevo được kí kết. Đây là thời điểm được qui định trong nội dung hiệp định Jonevo, tổ chức tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam sau hai năm. Nhưng không thực hiện được, hai miền Nam - Bắc Việt Nam chỉ cách nhau bởi con sông Hiền Lương nhỏ hẹp, mà như xa cách nghìn trùng. Tấm lòng miền Bắc thương nhớ miền Nam, miền Nam thiết tha hướng ra miền Bắc cứ đau đáu, da diết không nguôi, chỉ ước ao ngày xum họp. Mang tâm trạng đó, ông đã viết bài "Nhớ con sông quê hương".

Tiểu sử nhà thơ Tế Hanh (1921 - 2009)
Ông sinh năm 1921 tại làng Đông Yên (chính quê làng Giao Thủy) Bình Sơn, Quảng Ngãi, qua đời tại Hà Nội vào năm 2009.

"Năm 15 tuổi ông từ quê ra Huế học trường Khải Định (Quốc Học Huế). Ông bắt đầu sáng tác năm 1938, 17 tuổi viết bài thơ đầu tiên.

Sau đó, ông tiếp tục sáng tác, rồi tập hợp thành tập thơ Nghẹn ngào. Năm 1939, tập thơ này được giải khuyến khích của Tự Lực văn đoàn.

Năm 1941, Tế Hanh và thơ của ông ("Quê hương", "Lời con đường quê", "Vu vơ", "Ao ước") được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong cuốn Thi nhân Việt Nam (xuất bản năm 1942).

Tháng 8 năm 1945, Tế Hanh tham gia Việt Minh, tham gia công tác văn hóa, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng; và là Ủy viên giáo dục trong ủy ban lâm thời thành phố Đà Nẵng, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công,

Từ năm 1949 cho đến năm 1954, ông ở trong Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác ở Hội Văn nghệ. Năm 1957, Hội nhà văn Việt Nam thành lập, Tế Hanh tham gia Ban Biên tập tuần báo Văn của Hội, và nhiều năm, ông còn là Ủy viên chấp hành và Ban thường vụ của hội.

Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I"

Sưu tâm & tổng hợp ThaiSonTN

Comments

Post a Comment

Popular posts from this blog

Năm bộ tiểu thuyết kinh điển trong lịch sử Trung Quốc

Sáu điều Bác dạy, 5 lời thề, 10 điều kỷ luật của CAND Việt Nam

Chung kết bóng đá Seagame 28 Vietnam vs Thailand 15/6/2015