Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ
Triều Nguyễn, triều đại cuối cùng của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam, bắt đầu từ niên hiệu Gia Long Nguyễn Phúc Ánh đến Hoàng đế cuối cùng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy. Ngôi vị Hoàng đế đều kế thừa mô hình quân chủ chuyên chế cha truyền, con nối của các nước phương Đông, mà các triều đại phong kiến Việt Nam trước triều Nguyễn đã thực hiện. Lễ đăng quang nhận bảo kiếm, ấn truyền quốc của các vua Nguyễn diễn ra hết sức trọng thể và mang đậm sắc thái chính trị.
Hoàng đế triều Nguyễn cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước đó đều lấy Bảo tỷ để biểu thị cho quyền lực tối cao của mình và cả vương triều. Kim ngọc Bảo tỷ là ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại, ấn được làm bằng ngọc gọi là Ngọc tỷ, ấn được đúc bằng vàng, bằng bạc, bằng bạc mạ vàng gọi là Kim Bảo tỷ. Vì vậy, Kim ngọc Bảo tỷ là bảo vật quốc gia tượng trưng của Đế quyền.
Trong suốt 143 năm tồn tại, với 13 đời vua, triều Nguyễn đã cho chế tác và đưa vào sử dụng khoảng 100 Bảo tỷ bằng vàng và bằng ngọc, chưa kể số ấn tín quý riêng được tấn phong của các vương công cùng các “Tư chương hay Nhàn chương”.
Việc ra đời Ngọc tỷ lớn mang niên hiệu Thiệu Trị như “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” được dùng đóng trên văn kiện ngoại giao quốc tế, ban sắc thư cho nước ngoài, mà ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đã vượt ra ngoài tính chất nội trị, vươn tới tầm quốc tế, đồng thời biểu thị tư tưởng quốc gia độc lập và ý thức tự hào dân tộc. Bảo tỷ ở cả 3 đời vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đều là những ấn ngọc được làm và sử dụng mang tầm quốc gia trọng đại, được sử quan ghi chép cẩn trọng, ngắn gọn, song đầy đủ.
May mắn rằng, chúng ta còn giữ được 85 Bảo tỷ các loại trong tổng số khoảng 100 Kim ngọc Bảo tỷ của triều Nguyễn, số còn lại có thể đang lưu lạc tại Pháp, Mỹ… hoặc trôi nổi trong dân gian mà giới chuyên môn chưa có điều kiện điều tra khảo sát được.
Việc chế tác Kim ngọc Bảo tỷ phải được thực hiện đúng theo chính mệnh của Hoàng Đế dưới hình thức sắc mệnh, chỉ dụ.
Thường thì phải chọn ngày tốt, sắm sửa lễ vật, kính cáo tổ tiên, kính cẩn giám thị việc chế tác, khi xong thì dâng lên cho vua ngự lãm. Việc chạm khắc Ngọc tỷ, nhất là lúc cơ hội được ngọc quý, vua chuẩn định làm ấn ngọc thì phải qua nhiều nghi lễ, như khi làm “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”. Theo sử cũ chép lại, vào năm Thiệu Trị thứ 6 (tức 1846), có người dâng lên vua một viên ngọc cực lớn, vốn là sản vật của núi ngọc huyện Hòa Điền vùng đất Quảng Nam. Nhà vua vô cùng mừng rỡ liền sai quan Hữu tư giũa mài thành Ngọc tỷ, một năm thì xong. Quai ấn là hình rồng cuộn, ấn hai cấp hình vuông, cao 14,5cm, cạnh 13cm x 12,7cm và dầy 4,25cm. Trên lưng ấn, phía bên trái khắc 1 dòng chữ Hán: “Đắc thượng cát lễ thành phụng chỉ cung tuyên” (được ngày lành, lễ Đại tự đã làm xong phụng khắc). Phía bên phải khắc: “Thiệu Trị thất niên tam nguyệt thập ngũ nhật” (ngày 15 rằm tháng 3 năm Thiệu Trị thứ 7, tức 1847). Đặc biệt ở phía trên, trước đầu rồng còn khắc: “Nam Giao đại lễ để cáo” (để tế cáo Đại lễ đàn Nam Giao). Mặt ấn khắc nổi 9 chữ Triện, phân đều 3 hàng dọc và ngang: “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” (Ngọc tỷ truyền quốc của nước Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời). Đây là Ngọc tỷ quý và lớn nhất trong các Ngọc tỷ triều Nguyễn. Đích thân nhà vua đã làm lễ Đại tự cho khắc chữ trên mặt ngọc ấn. Ngọc tỷ này dùng đóng trên những bản sắc mệnh ban cho các nước chư hầu, những việc ban bố cho thiên hạ, được bảo vệ và đặc biệt quý trọng.
Quan sát Ngọc tỷ này, nghệ nhân chế tác ngọc Đào Trọng Cường – Phó chủ tịch Hiệp hội Đá quý Việt Nam nhận xét: “Đây là một khối bạch ngọc quý. Để chế tác được Ngọc tỷ với kỹ thuật đục kênh bong, tức là đục luồn sâu vào cả khối ngọc, với công nghệ hiện đại ngày nay cũng phải mất nhiều tháng trời, thế mới biết tổ tiên chúng ta đã dày công chọn thợ giỏi, thận trọng trong từng nét chạm thủ công mới đạt được thành tựu hiếm có này”.
Lời dụ của vua Thiệu Trị năm 1847, được chép trong cuốn “Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ” như sau: “… Nay gặp tiết Vạn Thọ, Ngọc tỷ đã làm xong, kính lấy mồng 1 tháng này sắm sửa nghi lễ, ta thân nâng Ngọc tỷ kính cáo tổ miếu, rồi kính để ở cung Càn Thành, cùng ấn truyền quốc đều long trọng, kéo dài cơ nghiệp mở mang khó nhọc, giữ gìn cũng không phải là dễ. Phải nghĩ lo theo, cố công tiếp nối, phải cẩn thận từ trước để trọn vẹn về sau, nên giữ đầy đặn mà được yên ổn, may ra sự nghiệp lớn lao giữ được mãi mãi, mà truyền cho con cháu muôn đời thì tốt lắm”.
Về quy cách sử dụng Bảo tỷ, ngay từ đời vua Gia Long đã có những quy định hết sức cụ thể và được hoàn thiện hơn vào các đời vua Minh Mệnh và Thiệu Trị tiếp theo, rồi áp dụng thực hiện cho đến năm 1945. Các Bảo tỷ đều được cất giữ ở điện Trung Hòa trong Đại Nội. Khi cần dùng đến Bảo tỷ thì các quan đại thần có mặt đều phải mặc phẩm phục để “hầu bảo”, tức đóng dấu, một cách kính cẩn. Việc “hầu bảo” và kiểm duyệt “hầu bảo” không được hoàn thiện thì tất cả các quan ở hệ thống giám sát, Bộ quan đương trực và Nội các đều bị khép tội.
Triều Nguyễn cũng quy định lệ “phong khóa Bảo tỷ” và lễ “phất thức”. Phong khóa Bảo tỷ là niêm phong khóa kín hòm ấn đựng Bảo tỷ. Khi “hầu Bảo” xong, ấn đặt trở lại vào hòm, các Trực thần phải dùng hai mảnh giấy có chữ viết của vua dán niêm phong vào mặt trước, rồi lấy the vàng che mặt chữ. Chìa khóa hòm Bảo tỷ do Cơ mật đại thần giữ.
Còn lễ “phất thức” gắn liền với lệ phong ấn, nhưng ở lễ này chỉ diễn ra mỗi năm một lần. Cứ vào hạ tuần tháng Chạp hàng năm, lễ “phất thức” được cử hành long trọng tại điện Cần Chánh. Người dự lễ do đích thân nhà vua lựa chọn trong danh sách các hoàng tử, văn võ đại thần trật Nhất phẩm cùng các trưởng quan ở Nội các và Cơ mật viện, ăn mặc theo đúng quy cách. Đúng lễ, Trực quan đặt hương án giữa điện Cần Chánh. Khi nội thần bưng các hòm Bảo tỷ ra chia đặt trên các bàn ở gian giữa điện Cần Chánh, Hoàng tử và các quan bước vào kiểm thị rồi dùng lụa đỏ để lau và nước hương thang chùi các ấn. Riêng hòm ấn truyền quốc “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo” (khi có điều kiện chúng tôi sẽ trở lại với bảo ấn vàng này) và “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” này thì chỉ được kiểm tra niêm phong và khóa mà thôi, không được mở ra. Khi việc lau chùi đã xong, các hòm ấn lại được niêm phong cẩn thận. Hòm ấn truyền quốc cũng được dán niêm phong mới có chữ của vua, xong xuôi Nội thần bưng Bảo tỷ cất vào chỗ cũ. Ngày làm lễ “phất phức” trên cũng là ngày giờ đầu năm sau triều đình lựa ngày tốt làm lễ khai ấn rồi mới được sử dụng tiếp.
Do rất ít khi được sử dụng, nên chúng ta hiện chưa có may mắn được gặp con dấu của “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” đóng trên văn tự nào còn lưu được đến bây giờ.
Ngọc tỷ là loại ấn được chạm khắc mài giũa bằng ngọc với nhiều loại khác nhau, nhưng thường là bích ngọc, bạch ngọc hay thanh ngọc. Các Ngọc tỷ triều Nguyễn. hiện còn cho thấy chủ yếu được làm trong khoảng từ đời Minh Mệnh đến Tự Đức. Vì chất liệu hết sức quý hiếm nên số lượng Ngọc tỷ ít hơn nhiều lần so với Kim Bảo tỷ. Hiện chỉ có 14 Ngọc tỷ và bảo ấn ngà trên tổng số 85 Kim ngọc Bảo tỷ mà chúng ta còn giữ được cho đến ngày nay. Trong số Ngọc tỷ này, “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” có kích cỡ to lớn hơn cả. Dáng rồng được tạc kiêu hãnh với bộ sừng dài và đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, chân 5 móng.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến – Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nhận xét: “Ngọc tỷ ấn tuy số lượng không nhiều nhưng nội dung đều thể hiện tầm quan trọng gắn với vương quyền. Có những Ngọc tỷ đặc biệt quan trọng như “Đại Nam Thiên tử chi tỷ, Đại Nam Hoàng đế chi tỷ, Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”. Những Ngọc tỷ này không chỉ phản ánh quyền lực tối thượng mà còn được sử dụng trong những văn bản quốc gia theo quy định hết sức đặc biệt. Khi phát hiện thấy dòng chữ khắc trên “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” cho thấy Ngọc tỷ này được dùng để tế lễ Nam Giao – lễ tế lớn nhất trong thời phong kiến – chúng tôi cũng rất bất ngờ”.
“Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” được cất giữ và bảo vệ cẩn mật tại Hà Nội và được đánh giá hiện trạng bằng mấy từ: “còn nguyên vẹn”.
Hoàng đế triều Nguyễn cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước đó đều lấy Bảo tỷ để biểu thị cho quyền lực tối cao của mình và cả vương triều. Kim ngọc Bảo tỷ là ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại, ấn được làm bằng ngọc gọi là Ngọc tỷ, ấn được đúc bằng vàng, bằng bạc, bằng bạc mạ vàng gọi là Kim Bảo tỷ. Vì vậy, Kim ngọc Bảo tỷ là bảo vật quốc gia tượng trưng của Đế quyền.
Trong suốt 143 năm tồn tại, với 13 đời vua, triều Nguyễn đã cho chế tác và đưa vào sử dụng khoảng 100 Bảo tỷ bằng vàng và bằng ngọc, chưa kể số ấn tín quý riêng được tấn phong của các vương công cùng các “Tư chương hay Nhàn chương”.
Việc ra đời Ngọc tỷ lớn mang niên hiệu Thiệu Trị như “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” được dùng đóng trên văn kiện ngoại giao quốc tế, ban sắc thư cho nước ngoài, mà ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đã vượt ra ngoài tính chất nội trị, vươn tới tầm quốc tế, đồng thời biểu thị tư tưởng quốc gia độc lập và ý thức tự hào dân tộc. Bảo tỷ ở cả 3 đời vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị đều là những ấn ngọc được làm và sử dụng mang tầm quốc gia trọng đại, được sử quan ghi chép cẩn trọng, ngắn gọn, song đầy đủ.
May mắn rằng, chúng ta còn giữ được 85 Bảo tỷ các loại trong tổng số khoảng 100 Kim ngọc Bảo tỷ của triều Nguyễn, số còn lại có thể đang lưu lạc tại Pháp, Mỹ… hoặc trôi nổi trong dân gian mà giới chuyên môn chưa có điều kiện điều tra khảo sát được.
Việc chế tác Kim ngọc Bảo tỷ phải được thực hiện đúng theo chính mệnh của Hoàng Đế dưới hình thức sắc mệnh, chỉ dụ.
Thường thì phải chọn ngày tốt, sắm sửa lễ vật, kính cáo tổ tiên, kính cẩn giám thị việc chế tác, khi xong thì dâng lên cho vua ngự lãm. Việc chạm khắc Ngọc tỷ, nhất là lúc cơ hội được ngọc quý, vua chuẩn định làm ấn ngọc thì phải qua nhiều nghi lễ, như khi làm “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”. Theo sử cũ chép lại, vào năm Thiệu Trị thứ 6 (tức 1846), có người dâng lên vua một viên ngọc cực lớn, vốn là sản vật của núi ngọc huyện Hòa Điền vùng đất Quảng Nam. Nhà vua vô cùng mừng rỡ liền sai quan Hữu tư giũa mài thành Ngọc tỷ, một năm thì xong. Quai ấn là hình rồng cuộn, ấn hai cấp hình vuông, cao 14,5cm, cạnh 13cm x 12,7cm và dầy 4,25cm. Trên lưng ấn, phía bên trái khắc 1 dòng chữ Hán: “Đắc thượng cát lễ thành phụng chỉ cung tuyên” (được ngày lành, lễ Đại tự đã làm xong phụng khắc). Phía bên phải khắc: “Thiệu Trị thất niên tam nguyệt thập ngũ nhật” (ngày 15 rằm tháng 3 năm Thiệu Trị thứ 7, tức 1847). Đặc biệt ở phía trên, trước đầu rồng còn khắc: “Nam Giao đại lễ để cáo” (để tế cáo Đại lễ đàn Nam Giao). Mặt ấn khắc nổi 9 chữ Triện, phân đều 3 hàng dọc và ngang: “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” (Ngọc tỷ truyền quốc của nước Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời). Đây là Ngọc tỷ quý và lớn nhất trong các Ngọc tỷ triều Nguyễn. Đích thân nhà vua đã làm lễ Đại tự cho khắc chữ trên mặt ngọc ấn. Ngọc tỷ này dùng đóng trên những bản sắc mệnh ban cho các nước chư hầu, những việc ban bố cho thiên hạ, được bảo vệ và đặc biệt quý trọng.
Quan sát Ngọc tỷ này, nghệ nhân chế tác ngọc Đào Trọng Cường – Phó chủ tịch Hiệp hội Đá quý Việt Nam nhận xét: “Đây là một khối bạch ngọc quý. Để chế tác được Ngọc tỷ với kỹ thuật đục kênh bong, tức là đục luồn sâu vào cả khối ngọc, với công nghệ hiện đại ngày nay cũng phải mất nhiều tháng trời, thế mới biết tổ tiên chúng ta đã dày công chọn thợ giỏi, thận trọng trong từng nét chạm thủ công mới đạt được thành tựu hiếm có này”.
Lời dụ của vua Thiệu Trị năm 1847, được chép trong cuốn “Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ” như sau: “… Nay gặp tiết Vạn Thọ, Ngọc tỷ đã làm xong, kính lấy mồng 1 tháng này sắm sửa nghi lễ, ta thân nâng Ngọc tỷ kính cáo tổ miếu, rồi kính để ở cung Càn Thành, cùng ấn truyền quốc đều long trọng, kéo dài cơ nghiệp mở mang khó nhọc, giữ gìn cũng không phải là dễ. Phải nghĩ lo theo, cố công tiếp nối, phải cẩn thận từ trước để trọn vẹn về sau, nên giữ đầy đặn mà được yên ổn, may ra sự nghiệp lớn lao giữ được mãi mãi, mà truyền cho con cháu muôn đời thì tốt lắm”.
Về quy cách sử dụng Bảo tỷ, ngay từ đời vua Gia Long đã có những quy định hết sức cụ thể và được hoàn thiện hơn vào các đời vua Minh Mệnh và Thiệu Trị tiếp theo, rồi áp dụng thực hiện cho đến năm 1945. Các Bảo tỷ đều được cất giữ ở điện Trung Hòa trong Đại Nội. Khi cần dùng đến Bảo tỷ thì các quan đại thần có mặt đều phải mặc phẩm phục để “hầu bảo”, tức đóng dấu, một cách kính cẩn. Việc “hầu bảo” và kiểm duyệt “hầu bảo” không được hoàn thiện thì tất cả các quan ở hệ thống giám sát, Bộ quan đương trực và Nội các đều bị khép tội.
Triều Nguyễn cũng quy định lệ “phong khóa Bảo tỷ” và lễ “phất thức”. Phong khóa Bảo tỷ là niêm phong khóa kín hòm ấn đựng Bảo tỷ. Khi “hầu Bảo” xong, ấn đặt trở lại vào hòm, các Trực thần phải dùng hai mảnh giấy có chữ viết của vua dán niêm phong vào mặt trước, rồi lấy the vàng che mặt chữ. Chìa khóa hòm Bảo tỷ do Cơ mật đại thần giữ.
Còn lễ “phất thức” gắn liền với lệ phong ấn, nhưng ở lễ này chỉ diễn ra mỗi năm một lần. Cứ vào hạ tuần tháng Chạp hàng năm, lễ “phất thức” được cử hành long trọng tại điện Cần Chánh. Người dự lễ do đích thân nhà vua lựa chọn trong danh sách các hoàng tử, văn võ đại thần trật Nhất phẩm cùng các trưởng quan ở Nội các và Cơ mật viện, ăn mặc theo đúng quy cách. Đúng lễ, Trực quan đặt hương án giữa điện Cần Chánh. Khi nội thần bưng các hòm Bảo tỷ ra chia đặt trên các bàn ở gian giữa điện Cần Chánh, Hoàng tử và các quan bước vào kiểm thị rồi dùng lụa đỏ để lau và nước hương thang chùi các ấn. Riêng hòm ấn truyền quốc “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo” (khi có điều kiện chúng tôi sẽ trở lại với bảo ấn vàng này) và “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” này thì chỉ được kiểm tra niêm phong và khóa mà thôi, không được mở ra. Khi việc lau chùi đã xong, các hòm ấn lại được niêm phong cẩn thận. Hòm ấn truyền quốc cũng được dán niêm phong mới có chữ của vua, xong xuôi Nội thần bưng Bảo tỷ cất vào chỗ cũ. Ngày làm lễ “phất phức” trên cũng là ngày giờ đầu năm sau triều đình lựa ngày tốt làm lễ khai ấn rồi mới được sử dụng tiếp.
Do rất ít khi được sử dụng, nên chúng ta hiện chưa có may mắn được gặp con dấu của “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” đóng trên văn tự nào còn lưu được đến bây giờ.
Ngọc tỷ là loại ấn được chạm khắc mài giũa bằng ngọc với nhiều loại khác nhau, nhưng thường là bích ngọc, bạch ngọc hay thanh ngọc. Các Ngọc tỷ triều Nguyễn. hiện còn cho thấy chủ yếu được làm trong khoảng từ đời Minh Mệnh đến Tự Đức. Vì chất liệu hết sức quý hiếm nên số lượng Ngọc tỷ ít hơn nhiều lần so với Kim Bảo tỷ. Hiện chỉ có 14 Ngọc tỷ và bảo ấn ngà trên tổng số 85 Kim ngọc Bảo tỷ mà chúng ta còn giữ được cho đến ngày nay. Trong số Ngọc tỷ này, “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” có kích cỡ to lớn hơn cả. Dáng rồng được tạc kiêu hãnh với bộ sừng dài và đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, chân 5 móng.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến – Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nhận xét: “Ngọc tỷ ấn tuy số lượng không nhiều nhưng nội dung đều thể hiện tầm quan trọng gắn với vương quyền. Có những Ngọc tỷ đặc biệt quan trọng như “Đại Nam Thiên tử chi tỷ, Đại Nam Hoàng đế chi tỷ, Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”. Những Ngọc tỷ này không chỉ phản ánh quyền lực tối thượng mà còn được sử dụng trong những văn bản quốc gia theo quy định hết sức đặc biệt. Khi phát hiện thấy dòng chữ khắc trên “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” cho thấy Ngọc tỷ này được dùng để tế lễ Nam Giao – lễ tế lớn nhất trong thời phong kiến – chúng tôi cũng rất bất ngờ”.
“Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” được cất giữ và bảo vệ cẩn mật tại Hà Nội và được đánh giá hiện trạng bằng mấy từ: “còn nguyên vẹn”.
Nguồn: FB Nhà Sử Học Lê Văn Lan




Đúng là báu vật vô giá
ReplyDeleteRất cám ơn vì bài viết của bạn. Những thông tin của bạn cung cấp đều rất đáng được chú ý. Hy vọng rằng chúng ta sẽ có thể hợp tác cùng nhau. Dây đai an toàn giá rẻ , quần áo bảo hộ lao động giá rẻ, Mũ bảo hộ giá thành rẻ .Găng tay chống hóa chất,bảo hộ phòng sạch,Giá mặt nạ phòng độc
ReplyDelete